Phân tích cấu trúc di truyền DNA
ứng dụng trong Y
pháp nhận dạng
BS
Nguyễn Đ́nh Nguyên ( Sedney- Australia )
Từ những năm 30s
dấu vân tay được đưa vào ứng dụng
trong Y Pháp (Forensics) và trở thành một công cụ cần
thiết trong pḥng thí nghiệm của cảnh sát h́nh sự
và thám tử để nhận dạng. Tuy nhiên dấu vân
tay bộc lộ nhiều khiếm khuyết một khi áp
dụng trong thực tế. Chẳng hạn, dấu vân tay
thông thường chỉ có thể lấy mẫu
được từ các đầu ngón tay mà thôi. Đă
thế ngày nay nó không c̣n đặc hiệu cho từng cá
thể nữa từ khi phẫu thuật chỉnh h́nh phát
triển mạnh, người ta có thể chủ
định thay đổi dấu vân tay qua phẫu
thuật. Chỉ trong ṿng trên dưới 50 năm từ khi
cấu trúc chuỗi di truyền DNA được Watson và
Crick công bố [1], ngành sinh học phân tử đă phát
triển mạnh mẽ và được ứng dụng
rộng răi. Một trong những ứng dụng quan
trọng của sinh học phân tử là sử dụng
đặc tính của cấu trúc chuỗi di truyền DNA
của từng cá thể vào trong Y pháp để nhận
dạng đối tượng coi như là một cuộc
cách mạng trong Y học h́nh sự của nhân loại.
Tương tự như
dấu vân tay, mỗi một con người đều có
một đặc trưng riêng về cấu trúc di
truyền của ḿnh, được xác định bằng
chuỗi di truyền DNA.
Cấu trúc của DNA [1],
và"điểm chỉ" DNA:
Đặc
tính của tất cả các sinh vật, kể cả con
người, đều được cấu tạo
từ đơn vị căn bản nhất là tế bào,
từ nguyên thuỷ là hợp tử được thụ
tinh bởi trứng và tinh trùng. Về phương diện
sinh học phân tử, mỗi tế bào của cơ
thể (trừ hồng cầu) đều có nhân, trong nhân
chứa các chất liệu di truyền, nhiễm sắc
thể (chromosome) quyết định cấu trúc
đặc tính cho mỗi cá thể. Con người có 23 bộ nhiễm sắc thể
(22 đôi thường và một đôi xác định
giới tính). Các nhiễm sắc thể này được
tạo bởi các chuỗi chất liệu chứa
đựng thông tin di truyền DNA (viết tắt của
từ DeoxyriboNucleic Acid) thừa kế từ cha và mẹ.
Mỗi cá thể sống nhận chất liệu DNA 50%
từ cha và 50% từ mẹ.
Có thể h́nh tượng cấu trúc phân tử
của một DNA như là một cái phéc-mơ-tuya (zip),
mỗi răng kéo là một trong bốn khối chất liệu
căn bản, viết tắt bằng các kư tự A
(adenine), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine), mà mỗi một kư
tự đó gọi là một nucleotide, chúng cũng
đứng song đôi như các răng kéo của
phéc-mơ-tuya theo cặp cố định A-T hoặc G-C.
Thông tin chứa đựng trong DNA được xác
định cơ bản bằng chuỗi tiếp nối
các kư tự này dọc theo cái "phéc-mơ-tuya" di
truyền đó. Các 'kư tự' này đứng theo một
thứ tự và một số lượng nhất
định để tạo thành đơn vị lớn
hơn gọi là gien. Nhiều gien nối lại với nhau
tạo thành nhiễm sắc thể. Theo ước tính
mới nhất, con người có khoảng 35000 bộ gien.
Trong đó chỉ có 1% số lượng gien đóng vai tṛ
chức năng (thí dụ như gien quy định màu da,
tóc v.v..), 99% c̣n lại là những gien không có chức
năng, các gien này rất
đa dạng, khác nhau ở từng cá thể. Cho nên
chẳng thể có người nào giống người nào
về cấu trúc di truyền DNA cả, trừ đó là
người sinh đôi cùng trứng.
'Hồ
sơ' DNA (tạm dịch từ DNA profiling) là một
phần nhỏ trích từ cấu trúc toàn bộ của
chuỗi DNA (của một cá thể), tức là các bộ
gien và thuộc phần gien không có chức năng,
đủ để phản ánh đặc thù riêng nhất
của mỗi cá thể không lẫn lộn với
người khác. Và cũng từ đó mà thuật ngữ
"Điểm chỉ" DNA (tạm dịch từ DNA
fingerprint)- cũng chính là 'hồ sơ DNA', do một nhà Di
truyền học người Anh, Alec Jeffreys đề
xuất, để nói lên một đặc trưng duy
nhất cho mỗi cá thể giống như là dấu vân tay
(hay điểm chỉ). 'Điểm chỉ' DNA là hoàn toàn
giống nhau ở tất cả các tế bào, tổ
chức mô, tạng phủ trong một cơ thể; và
điểm chỉ DNA không có thể thay đổi
được bằng bất cứ h́nh thức nào
với tri thức của nhân loại hiện nay.
Về nguyên lư nhận
dạng cá thể sống bằng DNA rất đơn
giản, đó là nguyên lư so sánh và ghép cặp. Đối
với nhận dạng vết tích th́ người ta đem
mẫu DNA của vết tích so sánh với mẫu DNA dự
trữ hoặc với các mẫu nghi ngờ. Đối
với việc nhận dạng quan hệ huyết
thống (cha mẹ chẳng hạn), người ta đem
so sánh DNA của cha, mẹ với cá thể đó
để xem có quan hệ di truyền hay không. Nói nôm na là
như biển số đăng kư xe. Mỗi một
chiếc xe có một biển số riêng, người ta có
thể dựa vào hồ sơ đăng kư có thể xác
định chính xác chủ nhân hiện thời của
chiếc xe đó, tương tự mỗi chủ nhân có
một thẻ đăng kư xe, khi mất xe họ có
thể dùng số đăng kư đó đi truy t́m chiếc
xe ở đâu. Kỹ thuật nhận dạng bằng DNA
cũng y như vậy nhưng điều đặc
biệt là DNA không thể thay đổi được, và
nó 'ẩn' bên trong cơ thể, phải dùng các phương
pháp kỹ thuật nhất định để có thể
đọc được nó mà thôi.
Tuy nhiên như đă tŕnh bày v́
cấu trúc di truyền DNA đầy đủ của
mỗi một cá thể rất phức tạp,
người ta không thể và không cần thiết phải
sử dụng toàn bộ 35 ngh́n bộ gien để đi
phân tích, so sánh. Do đó chỉ sử dụng những
bộ gien (khoảng chừng 12 gien hoặc ít hơn)
hoặc các marker (đoạn đặc trưng) của các
gien (không có chức năng) sao cho đủ để
đặc trưng cho mỗi cá thể để phân tích mà
thôi.
Ứng
dụng thực tế của công nghệ điểm
chỉ DNA:
Điểm chỉ DNA
được ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày
với mục đích: (a) Trong Y pháp, h́nh sự : để
xác định quan hệ phụ hoặc mẫu hệ;
để nhận dạng tội phạm cũng như
loại trừ nghi can thông qua dấu vết của cơ
thể để lại hiện trường; nhận
dạng cá nhân, nạn nhân vô thừa nhận. (b) Trong Y
học điều trị: để chẩn đoán các
bệnh về di truyền; phát triển các phương pháp
để chữa các rối loạn về di truyền. (c)
Trong các ngành khoa học khác: Như trong khảo cổ
học; hoặc trong nông-lâm-ngư nghiệp dùng để
vẽ bản đồ gien (mapping), tạp giao, lai
giống, chuyển gien, để nhận dạng dấu
vết các loài thú quư hiếm. Một trong ứng dụng
mới nhất của công nghệ phân tích điểm
chỉ DNA trong nông nghiệp là để bảo vệ tác
quyền thương mại các sản phẩm, hay
giống lai tạo mới.
Tuỳ theo các mục đích
khác nhau mà người ta tiến hành cách thức thu thập
mẫu để có được chuỗi DNA cơ
bản đầu tiên để phân tích khác nhau. Trong ứng
dụng nhận dạng con người các mẫu thu
thập cũng tuỳ theo yêu cầu mà có thể lấy
mẫu máu, tóc, lông, da v..v đặc biệt trong nhận
dạng tội phạm h́nh sự, mẫu thu thập
rất đa dạng tuỳ theo tính chất sự kiện
các dấu vết được để lại hiện
trường.
Các kỹ thuật phân tích
điểm chỉ DNA hiện hành [2]:Có nhiều kỹ
thuật phân tích nhưng hai
kỹ thuật thông dụng nhất hiện nay là:
Kỹ thuật phân tích RFLP
(đọc là / ri-flip/- viết tắt của Restriction
Fragment Length Polymorphism) (tạm dịch là các đoạn gien
có độ dài giới hạn đa h́nh thái). Xuất phát
từ thực tế là các đoạn DNA chức năng và
các đoạn DNA không chức năng có thể tồn
tại dưới nhiều h́nh thái khác nhau. Bằng cách
sử dụng các enzyme đặc hiệu, chẳng hạn
Restriction enzyme, có thể cắt ra các đoạn gien RFLP.
Người ta đă có thể nhận dạng
được đến vài ngh́n loại RFLP, rất
đặc hiệu cho cơ thể.
Kỹ thuật phân tích PCR/STR
(Polymerase chain reaction/Short Tandem Repeat)
Tức
là kỹ thuật dùng phản ứng chuỗi enzyme đa
phân để 'khuếch đại' các đoạn gien
ngắn có độ lặp ngắn theo thứ tự (Short
Tandem Repeat, STR). Ở đây polymesase tức là một
loại enzyme có thể cho phản ứng tạo ra
nhiều bản copy của một đoạn DNA nào đó;
phản ứng chuỗi tức là một phản ứng
diễn ra liên tục. Như vậy bằng kỹ
thuật PCR có thể trong một thời gian ngắn
tạo ra hàng triệu triệu đến hàng tỷ
bản copy của một STR. Kỹ thuật này c̣n
được gọi là kỹ thuật "khuếch
đại DNA" hay "Photocopy phân tử" trong
một lối nói rộng răi hơn.
Đây là một kỹ
thuật hiện đại nhất hiện nay
được dùng trong Y pháp DNA. Về mặt cơ
bản kỹ thuật này cũng tiến hành tương
tự như kỹ thuật RFLPs. Lợi điểm
của kỹ thuật này so với RFLP là:
-
Mẫu thu thập không nhất thiết phải đạt
tiêu chuẩn cao, những mẫu lấy từ các mô bị
huỷ hoại hoặc cháy bỏng nặng, xác thối
rữa do chôn lâu đều có thể dùng được,
hoặc chỉ lấy các 'vi vết' như tàn thuốc lá,
vết dính nước bọt, những mẫu bệnh
phẩm bị trộn lẫn như máu của nạn nhân
lẫn với máu hay dịch của phạm nhân.
Các đặc điểm khác
nhau về kỹ thuật cơ bản giữa PCR/STR
vơi RFLP là: (a) Trong nhận dạng quan hệ huyết
thống, nếu phân tích một gien bằng kỹ thuật
RFLP chỉ có thể cho ra tối đa hai dị hợp
tử (allele) và ba kiểu gien
(genotype), trong khi đó dùng kỹ thuật PCR để
khuếch đại số lượng gien này lên, th́ có
thể cho ra đến 20 dị hợp tử và
đến (20x21)/2 kiểu gien, và v́ thế kỹ thuật
này cho phép đánh giá chính xác hơn, (b) kỹ thuật PCR/STR
gắn huỳnh quang rất tốt, nên rất dễ phát
hiện tự động, thuận lợi cho phân tích pháp
y, bảo quản và dễ phục hồi số liệu.
Sau khi có các đoạn gien
cần thiết được cắt đoạn, xếp
theo kích thước, phân loại, thông qua hai kỹ thuật
trên, các đoạn DNA này được chuyển dạng,
nhuộm màu hoặc gắn huỳnh quang và tạo thành các
thanh (như các thanh mă (bar codes) trong các gói hàng bán trong siêu
thị), và dùng để so sánh đối chiếu.
Tuy nhiên công nghệ DNA cũng
như moị công nghệ khoa học khác, ưu điểm
và nhược điểm vẫn luôn song đôi với
nhau.
Một số vấn
đề đối với điểm chỉ DNA
Kết quả sai lầm
của điểm chỉ DNA không phải do sự trùng
hợp giữa cấu trúc di truyền của nhiều
người mà do sai sót trong khâu kỹ thuật cũng
như điều kiện tối ưu để cho ra
kết quả chính xác. Ngoài ra kỹ thuật phân tích
điểm chỉ DNA c̣n liên hệ đến mặt
đạo đức.
Thứ nhất phải
kể đến t́nh trạng nhiễm DNA ngoại lai, có
khi bị nhiễm ngay trên kính hiển vi khi soi tiêu bản.
Do đó cần phải đặt vấn đề tiêu
chuẩn chất lượng của pḥng thí nghiệm
phải đạt yêu cầu. Ngay ở Mỹ cũng
chỉ có 20 trên tổng số 60 pḥng thí nghiệm làm DNA tiêu
bản được Ban giám đốc kiểm nhận
pḥng thí nghiệm của Hiệp Hội Tội phạm
của Mỹ công nhận đạt tiêu chuẩn mà thôi.
Ở Úc, cho đến 1991 vẫn chưa có một cơ
quan kiểm nhận chất lượng các pḥng thí
nghiệm DNA nào [3], cũng như không có các chương
tŕnh kiểm tra chất lượng của nội bộ
pḥng thí nghiệm đó.
Thứ hai, liên quan đến
kỹ thuật chọn mẫu, nhiều khi mẫu không
đại diện, không điển h́nh, hoặc mẫu
bị thoái hoá. Tuy nhiên với kỹ thuật mới PCR/STR
nêu trên có thể khắc phục được
nhược điểm này, nhưng kỹ thuật này
lại không cho độ chính xác cao.
Cũng trong vấn đề
phân tích kết quả, cần phải đề cập
đến độ tin cậy của dữ kiện trong
quần thể (population data). Ví dụ như FBI đă xây
dựng được một hệ dữ liệu
thống kê quần thể tham khảo cho các sắc dân da
trắng, đen, da màu và dân Á châu. Vấn đề là ngay
trong mỗi nhóm sắc dân đó cũng có sự biến
đổi (chẳng hạn Á châu th́ gồm Đông Á, Tây Á,
Đông Nam Á v.v..). Xác suất để có thể khớp
được một mẫu DNA với một mẫu
trong quần thể tham khảo là rất thấp (1
phần 6 triệu!), do đó xác suất này có thể cao
hơn nếu dùng phụ nhóm của quần thể tham
khảo (có thể tăng lên 1/800000).
Một
trở ngại khác liên quan đến bằng chứng.
Kết quả báo cáo của chuyên viên DNA được toà
ghi nhận, thế nhưng lại không có bằng chứng
cụ thể nào để xác nhận mẫu DNA đó là
sản phẩm lấy từ mẫu bệnh phẩm nguyên
thuỷ cả.
Điểm sau cùng trong tính
phức tạp của kỹ thuật điểm chỉ
DNA là liên quan đến vấn đề đạo
đức và pháp lư. Đây là vấn đề tranh căi
rất nhiều và chưa hoàn toàn thống nhất trong hệ
thống pháp luật của nhiều quốc gia. Thứ
nhất là về ngân hàng dữ liệu DNA tội phạm.
Luật lệ nhiều nước gần như thống
nhất là tội phạm hoặc như nghi phạm
bắt buộc phải làm DNA. C̣n những người b́nh
thường th́ không có cơ sở luật pháp bắt
họ phải làm, như vậy về mặt dữ
liệu sẽ bị thiếu hụt. Trong một số
trường hợp những bệnh nhân b́nh thường,
v́ lư do ǵ đó phải xét nghiệm DNA th́ đây là một
trong những trường hợp nguy cơ kết quả
DNA bị lạm dụng. Hoặc giả sử một
trường hợp khác vừa liên quan đến đạo
đức, vừa luật pháp. Ví dụ một đôi
vợ chồng có một đứa con bị bệnh Cystis
Fibrosis (hay CF, dịch là bệnh xơ nang tổn
thương chủ yếu là tuỵ tạng và phối) là
một bệnh di truyền lặn, do đó về di
truyền th́ bố mẹ phải có gien ẩn của
bịnh này mới 'truyền' được cho đưá
con. Nhưng khốn thay, khi xét nghiệm ra th́ chỉ có
người mẹ mang gien lặn mà thôi. Vấn đề
đặt ra là, liệu có nên thông báo cho người
chồng của bà mẹ biết rằng ông không phải là
bố của đứa trẻ hay không? Và có nên thông báo cho
cha chính thức của đứa trẻ rằng chính ông có
mang gien lặn của bệnh CF, về mặt di truyền
ông không nên cưới vợ có cùng mang gien lặn bệnh
như ông nữa, hay không?
Điểm chỉ DNA và
vụ thảm hoạ hoả hoạn ở ITC thành phố
HCM tháng 10/2002:
Áp
dụng của điểm chỉ DNA trong nhận dạng
tử thi của thảm hoạ hoả hoạn vừa mới xảy ra trong
hạ tuần tháng 10 vừa qua tại ITC, thành phố HCM
[4], theo báo cáo của nhà chức trách th́ có 60 người
tử vong, do sự huỷ hoại của lửa, 7 tử
thi không có khả năng nhận dạng. Giới chuyên môn
có thẩm quyền có hứa hẹn sẽ thu mẫu làm
điểm chỉ DNA cho các trường hợp đó.
Vậy ta có quyền hy vọng không? Câu trả lời là
hoàn toàn có thể nếu dưạ trên bài tổng quan trên
đây. Thực sự nhận dạng cá thể trong
trường hợp này không hoàn toàn phức tạp như
truy t́m dấu vết tội phạm. Các bước
cần phải làm là chỉ cần thu mẫu mô bệnh
phẩm, rồi lấy mẫu của thân nhân có
người mất tích nghi ngờ trong vụ hoả
hoạn. Chế khắc nhược điểm của mô
bị cháy, nhiễm bẩn th́ kỹ thuật phân tích PCR/STR
hoàn toàn có khả năng. Vấn đề chỉ c̣n là kinh
phí và khả năng thực hiện kỹ thuật.
Về mặt thực te,
giới chuyên môn Phillipines đă thành công trong việc ứng
dụng công nghệ điểm chỉ DNA để
nhận dạng các nạn nhân trong một vụ thảm
hoạ hoả hoạn [5] tại một trại mồ côi
ở Paco, Manila năm 1998. Vụ hoả hoạn này đă
cướp đi ít nhất là 28 sinh mạng, trong đó
hầu hết là trẻ em. Điều phức tạp là
tất cả những thi thể đă gần như cháy
thành than ngoài khả năng nhận dạng cơ học,
và các thi thể này v́ lư do vệ sinh lúc đó đă
được chôn cất đến 3 tháng mới
được khai quật để lấy mẫu.
Vấn đề đạo đức đặt ra trong
trường hợp này là sau vụ thảm nạn,
nhiều bố mẹ trước đó đă từng
gửi con vào trại mồ côi ở đây, bây giờ không
biết nạn nhân có phải là con của ḿnh không, nếu
nhận dạng được th́ họ có thể làm
được điều duy nhất họ có thể là
nhang khói cho đứa con xấu số của ḿnh trong quá
khứ họ không có khả năng nuôi dưỡng.
Mặc dù có một số
nhược điểm, nhưng cho đến nay
điểm chỉ DNA vẫn
được coi là công nghệ tối tân nhất trong khoa
học nhận dạng cá thể đặc hiệu và chính
xác, do tính đặc trưng
duy nhất cho mỗi cá thể. Điểm chỉ DNA
đă không những đưa h́nh sự Y pháp lên một
bước tiến mới mà nó c̣n được ứng
dụng rộng răi trong các ngành khoa học khác, kể
cả ứng dụng trong nghiên cứu tế bào mầm và
tạo sinh vô tính.
NĐN
Phụ chú:
[1]
Xem thêm: "Giải Nobel Y và Sinh học 2002", của
Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên báo Người
Việt, Úc 2/11/2002., và "Bộ gien trong cây lúa và hứa
hẹn" của cùng tác giả trên www.giaodiem.com
[2]
Thông tin tham khảo ở: Dự án "Forensic DNA Analysis:
Technology and Appication", Thomas Curran, Parliamentary Research Branch,
Canada 1997; "DNA fingerprinting
witness for the prosecution", Discover, June/1988; "Molercular
advances in genetics disease" Science, May 1992; Thông tin của
" Human Genome Project" Mỹ, http://www.orlngov/hgmis
[3]
Xem DNA profiling: Principles, Pitfalls and Potential, của Easteal và
cộng sự (1991) Harwood Academic Publisher
[4]
Xin đọc tin trên www.vnexpress.net, mục Xă hội.
[5]
Xin đọc báo cáo về ứng dụng của phân tích
DNA trong pháp Y ở Philippines
www.supremecourt.gov.ph